Bạn sẽ đọc khoảng: 6 phút

Tại Hoa Kỳ, các doanh nghiệp tồn tại dưới 03 loại hình cơ bản sau: (1) Doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship); (2) Công ty hợp danh (Partnership); (3) Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company (LLC); (4) Công ty cổ phần (Corporation).

1. Doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship)

Doanh nghiệp tư nhân là một mô hình kinh doanh mà trong đó một cá nhân vừa đồng thời là chủ sở hữu vừa đồng thời hoạt động kinh doanh. Theo các báo cáo có hơn 2/3 số doanh nghiệp trên nước Hoa Kỳ là doanh nghiệp một chủ sở hữu kinh doanh, đây thường là các doanh nghiệp nhỏ.

Về việc thành lập, đây là loại hình dễ thành lập nhất và cho phép nhà đầu tư có toàn quyền làm chủ việc kinh doanh của mình. Một người bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình sẽ tự khắc được xem là một doanh nghiệp tư nhân mà không cần phải đăng ký như các loại hình khác. Tuy nhiên, nếu muốn doanh nghiệp tư nhân vẫn có thể đăng ký thương hiệu của riêng mình.

Cùng với đó, doanh nghiệp tư nhân không hình thành một pháp nhân riêng biệt. Nghĩa là tài sản và các khoản nợ của doanh nghiệp cũng chính là của chủ doanh nghiệp, không tách biệt nhau ra. Chủ doanh nghiệp có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý trên toàn bộ tài sản cá nhân của mình.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư cũng cần lưu ý điểm hạn chế của loại hình của loại hình doanh nghiệp này, đó là loại hình này sẽ khó để huy động vốn, không có cổ phần sở hữu rõ ràng và không dễ để vay tiền từ ngân hàng để vận hành kinh doanh.

Về nghĩa vụ thuế, chủ sở hữu sẽ là người đóng thuế thu nhập cá nhân, không cần đóng thuế thu nhập doanh nghiệp.

Như vậy, loại hình doanh nghiệp này phù hợp với những việc kinh doanh đơn giản, cần ít vốn hoặc để một cá nhân thử một ý tưởng kinh doanh mới trước khi thành lập một doanh nghiệp hoàn chỉnh hơn.

2. Công ty hợp danh (Partnership)

Về loại hình công ty hợp danh, để tạo sự thống nhất về Luật hợp danh giữa các bang, Hội nghị quốc gia về luật thống nhất giữa các bang (National Conference of Commissioners on Uniform State Laws) đã xây dựng các luật thống nhất về hợp danh. Các Luật thống nhất được phần lớn các bang thông qua và áp dụng. Luật thống nhất về hợp danh (Uniform Partnership Act – UPA) điều chỉnh về các vấn đề tổ chức và hoạt động của hợp danh khi các bên không có thỏa thuận về vấn đề này. UPA được hầu hết các bang áp dụng trừ bang Louisiana.

Điều 101(6) UPA định nghĩa: “hợp danh là sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều người để cùng thực hiện hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận…”. Trong khái niệm này, người được hiểu bao gồm cả cá nhân, pháp nhân và các thực thể pháp lý khác. Như vậy, theo pháp luật của Hoa Kỳ, hợp danh có thể được thiết lập bởi các cá nhân, pháp nhân và/hoặc các thực thể pháp lý khác.

Theo pháp luật Hoa Kỳ, nhìn chung có hai loại là hợp danh hữu hạn và hợp danh trách nhiệm hữu hạn, trong đó:

  • Hợp danh hữu hạn – Limited Partnership (LP) có một duy nhất một thành viên hợp danh (General partner) chịu trách nhiệm vận hành kinh doanh và có trách nhiệm vô hạn đối doanh nghiệp trên toàn bộ tài sản doanh nghiệp và tài sản cá nhân. Tất cả các thành viên còn lại đều là thành viên hữu hạn (Limited partner), chỉ góp vốn và không có quyền đưa ra quyết định đối với việc kinh doanh.
  • Hợp danh trách nhiệm hữu hạn – Limited Liability Partnership (LLP) có nhiều thành viên cùng có quyền quyết định và chịu trách nhiệm vô hạn đối với việc vận hành kinh doanh, tuy nhiên trách nhiệm pháp lý sẽ được giới hạn riêng cho từng thành viên, một thành viên sẽ được bảo vệ khỏi các khoản nợ của những thành viên khác và không phải chịu trách nhiệm cho các hành động của họ.

Về nghĩa vụ thuế, lợi nhuận của hợp danh sẽ được chia trực tiếp về cho các thành viên và chịu thuế thu nhập cá nhân, không áp dụng thuế doanh nghiệp. Ngoài ra, các thành viên (trừ thành viên hữu hạn) còn cần phải đóng thuế tự làm chủ (self-employment taxes) là 15.3%, trong đó bao gồm 12,4% bảo hiểm xã hội (social security) và 2,9% bảo hiểm y tế (Medicare).

Như vậy, loại hình doanh nghiệp này phù hợp với việc kinh doanh có nhiều chủ sở hữu, với đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này về mặt lý luận, loại hình này phù hợp cho nhóm các chuyên gia hợp tác cùng nhau như các luật sư, kiểm toán hoặc với một nhóm người muốn thử ý tưởng kinh doanh của họ trước khi thành lập một doanh nghiệp hoàn chỉnh hơn. 

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company (LLC)

Công ty trách nhiệm hữu hạn (limited liability company- LLC) là một loại hình doanh nghiệp vừa có một số đặc điểm của công ty cổ phần (về khía cạnh trách nhiệm hữu hạn) vừa có một số đặc điểm của công ty hợp danh (về khía cạnh đánh thuế thu nhập đối với thành viên).

  • Giống công ty hợp danh: Công ty TNHH không phải nộp thuế thu nhập mà thuế thu nhập sẽ đánh trực tiếp vào lợi nhuận chia cho các thành viên trừ trường hợp các thành viên lựa chọn đánh thuế thu nhập vào công ty.
  • Giống công ty cổ phần: Công ty TNHH được thừa nhận tư cách pháp nhân. Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn được gọi là thành viên cũng được hưởng cơ chế trách nhiệm hữu hạn như cổ đông.

Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức và hoạt động của LLC rất linh hoạt, các thành viên có thể xác lập thỏa thuận vận hành (operating agreement) để quy định về quản lý, phân chia lợi nhuận, chuyển nhượng vốn, giải thể LLC. Trong trường hợp không có thỏa thuận vận hành hoặc thỏa thuận vận hành không có quy định tương ứng, các quy định trong Luật của bang điều chỉnh về LLC được áp dụng. Nếu không có thỏa thuận vận hành hoặc Luật bang không quy định, Tòa án sẽ áp dụng các quy định về hợp danh để giải quyết.

Về nghĩa vụ thuế, lợi nhuận và khoản lỗ được chuyển trực tiếp về cho từng thành viên công ty và chịu thuế thu nhập cá nhân mà không phải chịu thuế doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thành viên được xem là tự làm chủ nên phải đóng thuế tự làm chủ.
Qua đó, LLC thường được lựa chọn cho việc kinh doanh có rủi ro trung bình đến cao và cho những chủ doanh nghiệp có tài sản cá nhân lớn muốn được bảo vệ hoặc muốn trả thuế thấp hơn so với hình thức công ty cổ phần.

4. Công ty cổ phần (Corporation)

Công ty cổ phần (corporation) là một pháp nhân được thành lập và thừa nhận theo pháp luật của bang. Công ty cổ phần có thể được sở hữu bởi một hoặc nhiều người gọi là cổ đông. Cổ đông có thể là thể nhân hoặc pháp nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp lý nào.

Hiện tại, theo pháp luật Hoa Kỳ có 2 loại công ty cổ phần chính là C Corp và S Corp:

  • Theo đó, C Corp là một pháp nhân riêng biệt, tách rời khỏi chủ doanh nghiệp, lợi nhuận, thuế của doanh nghiệp được tính riêng và chịu trách nhiệm pháp lý riêng. Đây là loại hình bảo vệ tốt nhất cho chủ doanh nghiệp khỏi các trách nhiệm pháp lý cá nhân, nhưng cũng có chi phí thành lập và vận hành cao hơn, đòi hỏi quy trình vận hành, sổ sách kế toán và báo cáo gắt gao hơn. Một lợi thế lớn đối với C Corp là khả năng huy động vốn vì được quyền chào bán cổ phần và loại hình này phù hợp với việc kinh doanh có rủi ro trung bình đến cao, có nhu cầu huy động nguồn vốn lớn.
  • Trong khi đó, S Corp là loại hình công ty cổ phần tương tự như C Corp nhưng tránh được việc đánh thuế doanh nghiệp, lợi nhuận được chia về trực tiếp cho các cổ đông và chỉ phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, S Corp không thể có nhiều hơn 100 cổ đông và tất cả cổ đông đều phải là công nhân Mỹ nên không phù hợp cho các nhà đầu tư mới sang Mỹ vì chỉ mới là thường trú nhân. Nhiều bang tại Mỹ không công nhận S Corp và áp dụng quy định như C Corp.

Như vậy, trên đây là 04 loại hình cơ bản theo quy định pháp luật Mỹ, tùy vào dự định đầu tư kinh doanh mà nhà đầu tư có loại hình cho phù hợp. Hiện tại loại hình phổ biến nhất là Công ty trách nhiệm hữu hạn (LLC) do vừa tận dụng được sự gọn nhẹ của hình thức hợp danh, vừa bảo vệ được chủ doanh nghiệp khỏi trách nhiệm pháp lý trên tài sản cá nhân như công ty cổ phần, và không bị đánh thuế 2 lần.

nguồn: siglaw.vn

Bài này đã được đọc 558 lần!